Tự học lập trình JAVA - Bài 2 tiếp theo
Tạo ra một đối tượng:
Như đã đề cập trước đây là lớp cung cấp những bản thiết kế cho các đối tượng. Vì vậy, về cơ bản là một đối tượng được tạo ra từ một lớp. Trong java từ khóa new được sử dụng để tạo các đối tượng mới.
Có ba bước khi tạo một đối tượng từ một lớp:
- Khai báo (Declaration). Một khai báo biến với một tên biến với một loại đối tượng.
- Tạo thể hiện (Instantiation). Từ khóa "new" được sử dụng để tạo ra các đối tượng.
- Khởi tạo (Initialization). Từ khoá “new” được theo sau bởi một lời gọi hàm dựng. Lời gọi này khởi tạo đối tượng mới.
Ví dụ về việc tạo ra một đối tượng được đưa ra dưới đây:
Nếu chúng ta biên dịch và chạy chương trình trên thì nó sẽ cho ra kết quả như sau:
Passed Name is: tommy
Truy cập thuộc tính và phương thức:
Thuộc tính và phương thức được truy cập thông qua đối tượng được tạo ra. Để truy cập chúng, ta thực hiện như sau:
Ví dụ:
Nếu chúng ta biên dịch và chạy chương trình trên thì nó sẽ cho ra kết quả như sau:
Passed Name is :tommy
Puppy’s age is :2
Variable Value :2
Quy tắc khai báo tập tin nguồn:
Những quy định này là rất cần thiết khi khai báo các lớp:
- Chỉ có thể có một lớp public cho mỗi tập tin nguồn.
- Một tập tin nguồn có thể có nhiều lớp không public (non public).
- Tên lớp public được dùng để đặt tên cho tập tin nguồn và có đuôi là .java. Ví dụ: tên lớp là public class Employee{…}. Sau đó, tập tin nguồn phải được đặt tên là Employee.java.
- Nếu lớp được định nghĩa bên trong một gói, từ khóa package khai báo gói phải được báo cáo đầu tiên trong tập tin nguồn.
- Nếu có khai báo import thì phải được viết giữa từ khóa package và khai báo lớp. Nếu không có báo cáo package thì khai báo import phải là dòng đầu tiên trong tập tin nguồn.
- Khai báo import và package này sẽ bao hàm tất cả các lớp có trong tập tin nguồn.
- Các lớp có nhiều cấp độ truy cập và có nhiều loại khác nhau của các lớp: các lớp trừu tượng, các lớp hằng,.. Tôi sẽ giải thích ở các bài sau trong bài định danh truy cập.
Ngoài các loại được đề cập ở trên lớp, Java cũng có một số lớp đặc biệt gọi là các lớp bên trong (Inner classes) và lớp vô danh (Anonymous classes).
Gói trong Java (Java Package):
Hiểu một cách đơn giản, nó là một cách để phân loại các lớp và giao diện. Khi phát triển các ứng dụng trong Java, hàng trăm lớp và giao diện sẽ được viết, do đó phân loại các lớp là điều cần làm cũng như làm cho cuộc sống dễ dàng hơn nhiều.
Khai báo import:
Trong java nếu tên đầy đủ, trong đó bao gồm tên gói và tên lớp, được đưa ra thì sau đó trình biên dịch có thể dễ dàng xác định vị trí mã nguồn. Khai báo import là một cách để chỉ cho trình biên dịch thấy được vị trí mã nguồn.
Ví dụ sau sẽ yêu cầu trình biên dịch tải tất cả các lớp có sẵn trong thư mục java/io:
Một CASE STUDY đơn giản
Chúng ta sẽ tạo ra hai lớp: Employee và EmployeeTest.
Trước tiên, mở notepad và thêm đoạn mã sau. Hãy nhớ rằng đây là lớp Employee và là lớp public. Bây giờ lưu tập tin này với tên Employee.java.
Lớp Employee có bốn thuộc tính có tên là name, age, designator và salary. Lớp có một hàm dựng một tham số được khai báo rõ ràng.

Để chạy được chương trình, ta cần phương thức main() và các đối tượng cần được tạo ra. Chúng ta sẽ tạo ra một lớp riêng cho những công việc này.
Dưới đây là lớp EmployeeTest mà tạo ra hai đối tượng của lớp Employee và gọi các phương thức cho từng đối tượng để gán giá trị cho mỗi biến.
Lưu mã sau đây trong tập tin EmployeeTest.java

Bây giờ biên dịch cả 2 lớp và sau đó chạy EmployeeTest để xem kết quả như sau:
C:\> javac Employee.java
C:\> javac EmployeeTest.java
C:\> java EmployeeTest
Name: James Smith
Age: 26
Designation: Senior Software Engineer
Salary: 1000.0
Name: Mary Anne
Age: 21
Designation: Software Engineer
Salary: 500.0